Archive for January, 2010

Review: Những nụ hôn rực rỡ (2010)

Sunday, January 31st, 2010

Không phải tui thiên vị cho Những nụ hôn rực rỡ, nhưng đây là phim Tết duy nhất mà tui xem nên sẽ là phim Tết duy nhất được review trên blog.

1. Musical - Ca vũ kịch - không phải là thể loại phim ăn khách. Bằng chứng là mãi đến Mamma Mia! thể loại này mới có một cú đột phá về doanh thu, còn trước đó những Moulin Rouge hay Chicago hay Dreamgirls đều khá ế ẩm nơi phòng vé, hoặc doanh thu chỉ tàm tạm trên dưới 100 triệu đôla. Musical cũng không phải là thể loại phim dễ làm: nó đòi hỏi diễn viên phải vừa hát vừa múa vừa diễn, người viết lời ca khúc phải vừa đảm bảo được vẻ đẹp của lời bài hát nhưng chuyển tải được thoại của bộ phim. Trong nhiều trường hợp, một ca khúc sẽ được nhiều nhân vật trong phim cùng hát, nhưng cùng một nội dung nghĩa đen, mỗi người hát lại thổi vào đó một ý nghĩa khác. Một ví dụ để bạn dễ hình dung: trong Across the universe, ca khúc I want you được trình bày trong đoạn những thanh niên bị bắt đi lính, mà "I want you" (Ta muốn ngươi) trở thành lời kêu gọi tổng động viên của chính phủ Mỹ. Cũng ca khúc ấy, Prudence hát lại trở thành tâm sự của một cô gái dành cho một cô gái khác (I want you thành Ta muốn em).

2. Với tiếng Anh, I (tôi, ta, tao, anh, em, mình, tui) và You (bạn, ngươi, mày, em, anh, đằng ấy, các bạn) dễ dàng chuyển từ người này sang người kia, hai người cùng hát một câu nhưng có thể mang ý nghĩa khác. Điều đó không dễ dàng khi đem sang tiếng Việt. Vì vậy khi Dũng khùng bắt tay vào làm Những nụ hôn rực rỡ, tui rất là nghi ngờ không biết Dũng sẽ làm thế nào. Vậy mà Dũng làm được. Những ca khúc 'Ai cũng có thể' hay 'Ai cũng có nỗi niềm riêng' được từng nhân vật trong phim hát, mỗi người trong họ lại mang một nỗi niềm, một tâm sự, một hoàn cảnh để đem đến cho ca khúc một ý nghĩa riêng.

3. Câu chuyện của Những nụ hôn rực rỡ khá đơn giản - bạn có thể tìm thấy trong hàng trăm bộ phim thế giới đã được làm, từ 7 Samurais đến Bug's life. Đó là những người bình thường, trong những hoàn cảnh không bình thường, đã làm những điều kỳ diệu. Những người bình thường đây là cô chủ khách sạn 'ế khách' Thanh Lam, cô bé dọn phòng, anh chàng bảo vệ, câu lao công, dì lao công, ông đầu bếp. Để cứu vãn tình thế khu nghỉ mát sắp bị đóng cửa vì quá ế, Thanh Lam đã 'bày mưu tính kế' giăng bẫy nhóm hát 4U đang nổi đình nổi đám khi một cậu ca sĩ của nhóm chẳng hiểu vì lý do gì 'lò mò' ra khu nghĩ dưỡng để tránh sự đời. Thế rồi, tình yêu thì len lén đến, còn báo chí thì trơ trẽn bu vào. Cuộc đời những người giản dị ấy bị xáo trộn. Âm mưu của cô chủ khu nghỉ mát có nguy cơ bị bại lộ. Không chỉ vậy, bí mật của mỗi con người ở khu nhà trọ ấy cũng dần sáng tỏ. Rất phảng phất câu chuyện của 'Kung fu Hustle', thay vì võ lâm cao thủ giấu mình ở Xóm Chuồng Heo, thì đây là những tài năng văn nghệ ẩn mình ở khu nghỉ mát Ngọc Sương. Mọi người cuối cùng nhận ra được chân giá trị đích thực của cuộc sống và tình yêu.

4. Dũng khùng không giấu diếm mình là 'vua đạo phim' - trong Những nụ hôn rực rỡ, anh 'tự tát vào mặt mình' khi để một nhân vật thốt lên 'Dũng khùng đó hả, cha đó là chuyên chôm ý tưởng của người ta'. (Điều này rất khác với bạn thân của Dũng là Vũ Ngọc Đãng, gương mặt bị báo chí ngày đêm hận vì tội luôn tự khen phim mình trên phim của mình). Thế nhưng, dù Những nụ hôn rực rỡ có giống Mamma Mia! về bối cảnh, giống Kungfu Hustle về ý tưởng, giống 7 Samurais về cấu trúc, sống phần trình diễn âm nhạc bằng các dụng cụ đời thường như của STOMP thì Những nụ hôn rực rỡ vẫn là một phim 'rất Dũng khùng', rất Việt Nam, có nét riêng của nó, độc đáo của nó, cá tính của nó. Cũng như người ta nói Avatar giống Pocahontas, giống The Last Samurai, giống Dance with the wolves, thì đó vẫn là một Avatar của James Cameron.

5. Không thể không nói đến Tấn Lộc, người đã biên đạo những màn múa đẹp mắt và ấn tượng của Những nụ hôn rực rỡ. Không thể so sánh những màn trình diễn ca vũ nhạc của Những nụ hôn rực rỡ với các phim Hollywood, nơi mà nhảy múa đã là văn hóa ăn sâu trong máu của các diễn viên, với công nghệ biểu diễn chuyên nghiệp và được phát triển hàng trăm năm. Trong khi đó, ở Việt Nam, nếu xem các màn trình diễn múa trên sân khấu hay trong trường học vẫn sẽ thấy 20 năm, hay có khi, 30 năm, 40 năm qua vẫn không hề có sự thay đổi nào - vẫn nhún hai chân xuống, hai tay đưa qua trai ngoắc một phát lên cao, rồi nhún cái nữa, hai tay đứa qua phải ngoắc một cái lên cao, rồi cầm nón lá quay tưng vào nhau tạo ra vòng tròn rồi xình xịch xình xịch quay vòng vòng đưa nón lên cao hạ xuống dưới.... Các màn trình diễn trong Những nụ hôn rực rỡ không quá phức tạp về mặt kỹ thuật biểu diễn - các diễn viên đều là dân múa không chuyên và họ cũng không có thời gian dư dã để luyện tập múa nhiều tháng trời với các chuyên gia dạy múa như ở Hollywood - nhưng lại toát lên được thông điệp chính của phim: Ai cũng có thể.

6. Điểm hay nhất của Những nụ hôn rực rỡ chính là cảm xúc chân thật của câu chuyện. Giản dị, nhẹ nhàng, hòa trộn giữa hài hước và tình cảm chừng mực, với một dàn diễn viên đẹp hoà mình trong một bối cảnh đẹp được thể hiện qua những khung hình đẹp, Những nụ hôn rực rỡ có thể xem là bộ phim 'đỉnh cao' về tay nghề của Dũng cho đến nay (ngoại trừ Giải cứu thần chết, ba phim còn lại của Dũng tui đều đã xem). Có nhiều đoạn trong phim rất xúc động, không chỉ vì đó là câu chuyện về tình yêu trai gái trẻ trung không ngại ngùng nói ra, đến tình trai gái thẹn thùng vì khác biệt về giai cấp, mà còn là tình già không dám nói, tình mẹ con giấu trong lòng, và cả tình cảm người đồng giới.

7. Đương nhiên, để chuyển tải được cảm xúc của nhân vật thì không chỉ kịch bản mà quan trọng không kém là diễn xuất của diễn viên. Thanh Hằng rất đột phá với một vai hài duyên dáng dí dỏm. Không cần phải nhăn nhó mặt mày, gồng gân cơ mặt, Thanh Hằng vẫn có thể khiến người ta bật cười với sự đỏm dáng hoang tưởng của cô chủ khu nghỉ trọ hay bị nấc cụt. Trong khi đó, Minh Hằng lại 'thoát xác' khỏi kiểu vai ngơ ngác hồn nhiên để vào một vai diễn tình cảm sâu đậm hơn. Cảnh Hằng khóc, giọt nước mắt lăn dài trên khóe mắt rồi bay đi trong gió - hoàn toàn không dùng đến hiệu ứng kỹ xảo điện ảnh để tạo ra nước mắt - có lẽ là một trong những cảnh khóc đẹp nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam - không chỉ bởi nó đẹp vì ánh sáng, bố cục, màu sắc mà còn bởi cảm xúc của nhân vật, của câu chuyện. Đáng nói nhất là sự đột phá của Phương Thanh trong một vai diễn ohức tạp hơn về nội tâm: hài hước tưng tửng ở đoạn đầu nhưng bỗng lắng sâu nhiều tâm sự thầm kín vào khúc cuối.

Dàn diễn viên nam dường như 'yếu thế' hơn. Ngoài Phước Sang là 'ngôi sao' và Ngọc Trai được biết đến qua loạt phim Kính Vạn Hoa, các gương mặt nam còn lại khá mới. Phước Sang thể hiện mình có một giọng ca... vô cùng đặc biệt, nhưng chính sự đặc biệt đó đem đến cho ông đầu bếp của anh sự thu hút dễ thương. Phạm Tuấn Anh trong vai Minh Anh, 'nam chính' của bộ phim, khá tròn vai, tuy rằng rất tiếc khi giọng Bắc của cậu lại được thay thế bằng một giọng miền Nam. Đáng tiếc, ba thành viên còn lại của nhóm 4U khá mờ nhạt. Ngay cả về mặt vũ đạo, cả bốn chàng trai 4U cũng không "địch lại" phần trình diễn của anh bảo vệ Tuấn Hưng (Leon Quang), người yêu thầm cô chủ Thanh Lam. (Leon Quang là diễn viên của sân khấu Broadway). Nổi bật nhất trong dàn diễn viên nam phải kể đến Tô Lâm trong vai cậu lao công đồng tính: hồn nhiên, trong sáng nhưng lại rất tình cảm.

8. Có thể nói Những nụ hôn rực rỡ là bộ phim Việt Nam mainstream đầu tiên có một nhân vật đồng tính lên tiếng công khai giới tính của mình và công khai hôn người tình đồng giới của mình trên màn ảnh. Cũng như những phim công thức của Hollywood, Những nụ hôn rực rỡ được kết thúc với một (đúng hơn là nhiều) bài diễn văn về ý nghĩa của cuộc sống, về điều mà nhân vật chính nhận ra cho bản thân của mình, mà trong đó, thông điệp về hãy chấp nhận bản thân mình và chấp nhận sự hiện diện của người đồng tính là một trong nhiều thông điệp mà Những nụ hôn rực rỡ đem đến cho khán giả. Đó cũng là một nét rất tiêng của Dũng khùng. Cả bốn bộ phim Tết mà anh làm đều mang những thông điệp về xã hội, về cuộc sống, không hề sáo mòn và cũ kỹ, trái lại, rất táo bạo và cấp tiến. Thông điệp xuyên suốt trong hầu hết các phim của Nguyễn Quang Dũng có lẽ rất 'khùng' so với xã hội hôm nay: đó là thông điệp về nhìn nhận giá trị thật của bản thân trong một xã hội đề cao sự giả dối và sợ hãi sự trung thực, xem chuyện giả dối là bình thường và sống với chính khả năng của bản thân là một hiện tượng bất thường.

9. Nói đến phim của Dũng khùng thì không thể không nói đến những câu thoại 'bất hủ' cũng những bình luận về xã hội. Trong hồn Trương Ba, da Hàng thịt là sự châm biếm của nhà thương điên, khi mà các bệnh nhân tâm thần hầu hết do những nghệ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, đạo diễn... tên tuổi thủ vai; Trong Nụ hôn thần chết là "đâu phải cái gì dân thấy công an cũng thấy'. Còn với Những nụ hôn rưc rỡ, Dũng khùng cuối cùng cũng ... đụng vào báo chí. Bài hát 'Em là ai' mô tả chân dung biếm họa của báo chí Việt Nam khá đặc sắc, với một đám phóng viên chen lấn nhau để bơi móc đời tư người nổi tiếng. "Tôi làm báo tin nhanh, cần ngay một luống rau xanh'. 'Kinh điển' về báo chí văn nghệ của Việt Nam trong Những nụ hôn rực rỡ là một nữ phóng viên bực bội khi đến xem 'liveshow ca nhạc' ở cuối phim "Không biết ai phụ trách PR để lát nữa nhận phong bì"...
Dĩ nhiên, khi ra mắt Những nụ hôn rực rỡ, Dũng khùng chủ trương tổ chức 'rất kỳ cục' - không có phong bì. Cách đây bốn năm, Dũng khùng đã 'kỳ cục' như thế với Hồn Trương Ba, da hàng thịt - hậu quả là bị đập tơi bời, có phóng viên còn gọi điện cho Dũng nói 'Mới đập một bài trên báo rồi đó, trả tiền PR đi... không có phong bì thì phải viết bài kiếm chác lại chứ'.

10. Không như những đạo diễn như Bùi Thạc Chuyên, Nguyễn Vinh Sơn hay sắp tới là Phan Đăng Di, Nguyễn Quang Dũng ý thức rõ một điều: nếu không thể chinh phục được khán giả trong nước thì sẽ khó có một nền tảng điện ảnh vững mạnh. Mỗi đạo diễn chọn một con đường khác nhau để đi, và Dũng khùng chọn con đường tạo dựng một nền tảng điện ảnh trong nước trước khi muốn vươn ra đến thế giới. Điều mà tui khâm phục nhất ở Dũng, chính là việc ý thức được mình thích gì, khán giả thích gì, và nhà sản xuất thích gì, gom cả ba sự yêu thích đó lại thành một. Nói cách khác, Dũng 'khùng' làm phim xuất phát từ tình cảm thật của chính bản thân mình và may mắn thay, tình cảm đó có cùng một nhịp với khán giả và nhà sản xuất.

(bài này viết ở blog thui, chưa đăng báo nào hết :D )

Review: The White Ribbon (2009)

Tuesday, January 26th, 2010

“Màu trắng là màu của sự trong sáng ngây thơ” Xem The White Ribbon* chỉ vài hôm sau những bài báo nói về đường lối chính sách giáo dục bằng roi vọt được đăng trên báo, và quan điểm 'có nên dùng bạo lực trong giáo dục' được tranh luận trên blog này ở bài 'Những điều trông thấy mà đau đớn lòng...', tui không khỏi nghĩ đến thế hệ mai sau của chúng ta. Tui đã lầm. Thế hệ bị đòn roi đã lớn lên. Đôi khi tui nghĩ, tại sao người Việt Nam mình sống ngày càng ác với nhau như thế. Hôm xem phim Đừng đốt có cảnh Hà Nội, hai người va quẹt xe máy vào nhau, người đàn ông hùng hổ leo xuống xe, người đàn ông kia chắp lại vái trong sợ hãi. Khán giả ai cũng cười, người Mỹ cười có lẽ vì thấy nó quá lố, người Việt người có lẽ vì thấy nó quá thật. Có bạn vào blog tui nói rằng, tui không phân biệt được giữa roi vọt bằng tình thương, roi vọt để giữ kỷ cương, với nạn bạo hành. Với tui, ranh giới đó rất mong manh. Mà tui có đánh đồng hai thứ đó vào nhau đâu. Tui chỉ nói, cái roi vọt tình thương kỷ cương kia, khi nó được nuôi dạy từ nhỏ, thì khôn lớn lên, nó thành nạn bạo hành... Và tui nghĩ, đó là câu chuyện của The White Ribbon... Bộ phim này không chỉ nói về sự ra đời của chủ nghĩa phát xít, đó chỉ là cách diễn dịch quá đơn giản chỉ bởi bộ phim đặt bối cảnh ở nước Đức, mà rộng hơn, nó nói về những vấn đề thối nát, về nguồn gốc của bạo lực trên toàn cầu” – Đạo diễn Michael Haneke nói về thông điệp của bộ phim Dải băng trắng của mình trong buổi giao lưu với khán giả tại rạp Egyptian Theater, Los Angeles (Mỹ) một ngày trước đêm trao giải Quả cầu vàng 2010.

Dải Băng trắng đặt bối cảnh ở một miền quê hiền hòa yên tĩnh của nước Đức trước chiến tranh thế giới thứ I. Sự yên tĩnh ấy bị phá vỡ bởi hàng loạt những sự kiện kỳ lạ bí ẩn, mà người kể lại câu chuyện này, một thầy giáo làng trẻ tuổi, sau nhiều năm vẫn không dám lý giải điều gì. Tất cả bắt đầu với một tai nạn. Ông bác sĩ làng bị ngã ngựa khi trên đường về nhà. Ai đó đã giăng dây. Một bà nông dân ngã chết trong nhà kho. Một đứa trẻ bị treo lên và bị tra tấn. Nhà kho bị cháy. Một đứa trẻ khác bị đánh đập dã man… Những người có chức sắc trong làng cố gắng điều tra. Kẻ gây án hẳn phải là một trong số những người trong làng. Nhưng kẻ đó là ai, và vì sao họ lại gây nên tội ác man rợ ấy? Liệu đó là ông bá tước, chủ đất, người đàn ông bị vợ ruồng bỏ vì bà không muốn con của mình lớn lên trên vùng đất của bạo lực, nơi mà cái ác và thù hằn rình rạp xung quanh? Hay đó là những người nông dân làm lụng miệt mài nhưng không được trả công xứng đáng? Hay đó là người quản gia chỉ biết dụng tay dụng chân để giải quyết những vướng mắc trong gia đình? Hay đó là ông bác sĩ với cuộc sống riêng tư bệnh hoạn và ích kỷ? Hay đó là ông cha đạo để răn dạy đạo lý làm người tốt phải dùng đến những nhục hình không làm tổn thương thể chất nhưng khiến đứa trẻ vỡ nát tâm hồn? Hay đó là những đứa trẻ con trong ngôi làng bình yên, luôn được giáo dục bằng roi vọt và những lời sỉ nhục, rằng phải sống để trở thành người thánh thiện, có phép tắc, kỷ cương? Một chân dung xã hội bình thường được tóm lại trong một ngôi làng, tiêu biểu, đặc trưng đến rõ nét.

Chủ đề bạo lực được hiện diện trong nhiều phim của đạo diễn Michael Haneke. Trong Dải băng trắng, như phần giới thiệu của bộ phim, chủ đề không chỉ dừng ở bạo lực. Bộ phim nói về nguồn gốc của bạo lực (mặc dù trong bộ phim đen trắng này, không có những cảnh đầu rơi máu chảy). Những đứa trẻ trong ngôi làng được giáo dục bằng đòn roi và sự sỉ nhục, bởi những người cầm quyền trong ngôi làng ấy nghĩ rằng chỉ có bạo lực đòn roi và những lời sỉ nhục mới có thể dạy dỗ bọn trẻ nên người. Mỗi đứa trẻ bị ngược đãi một cách khác nhau. Nhẹ nhàng nhất là sự đổ vỡ hôn nhân của cha mẹ. Con của quản gia thì bị đòn roi. Con của bác sĩ thì bị cha đẻ lạm dụng tình dục. Con của cha đạo thì bị sỉ nhục bởi những lời răn dạy của cha. Ông cha đạo bắt những đứa con của mình mang dải băng trắng, màu của sự trong trắng hồn nhiên, để chúng luôn nhớ rằng chúng phải sống đúng đắn, không lạc lối. Khi đứa con trai lớn của ông thú nhận về chuyện nó bắt đầu biết thủ dâm, ông trói nó vào giường mỗi đêm. Đôi mắt của đám trẻ con ngước nhìn người lớn trong sự phẫn uất, căm hờn, đau đớn, sợ hãi... Điều đáng sợ đến rợn người nhất của bộ phim, bởi thế, không phải là tàn bạo của những người cha, mà chính là sự hồn nhiên của những đứa trẻ. “Lý do trong phim của tôi có rất nhiều thú vật và trẻ con, bởi đó là những thành phần nằm dưới đáy trong chuỗi bạo lực. Chúng không thể tự vệ.” – Michael Haneke nói. Người ta nghĩ rằng đòn roi và làm tổn thương danh dự của trẻ con có thể giáo dục chúng nên người… Michael Haneke đã có một “câu đố” mà đáp án của nó sẽ khiến người xem suy nghĩ về cách mà người lớn giáo dục trẻ con bằng cách làm tổn thương chúng, dù đó là tổn thương thể chất hay tổn thương tinh thần. Như lời mở đầu của bộ phim, người thầy giáo kể lại câu chuyện này ‘để làm rõ những điều xảy ra sau này trên đất nước tôi’. Trong Dải băng trắng, người kể câu chuyện không cố gắng suy đoán hay phân tích. Ông chỉ đưa ra những sự kiện. Ông cũng thử gợi ý, nhưng lời gợi ý ngay tức thì bị dập tắt bởi lời đe dọa của cha đạo. Thế nhưng, khán giả đều tự chất vất: những đứa trẻ trong câu chuyện, 20, 30 năm sau, khi lớn lên, chúng trở thành ai, trong thời kỳ của phát xít Đức trỗi dậy mạnh mẽ?

Như hầu hết các phim trước đây của đạo diễn Michael Haneke, câu trả lời không bao giờ được giải đáp một cách rành mạch rõ ràng. Nhưng khác với những phim trước đây của Michael Hanake, khi mà bạo lực được diễn tả tỉ mỉ trực diện đến rợn người, thì trong Dải băng trắng, những khung hình tĩnh với hai màu đen trắng của ngôi làng bình yên, với tuyết phủ trắng xóa, lại khiến người ta nổi gai ốc, bởi họ có thể tưởng tượng và hình dung phía sau những bức tường, những cánh cửa tĩnh lặng kia là những tội ác đang diễn ra ra sao. Ngay cả khi không gian yên lặng, trong đầu người xem vẫn có thể nghe vang vang tiếng khóc thét của đứa trẻ khi cha nó cầm chiếc roi da quật vào nó - nhân danh 'lập lại kỷ cương bằng tình thương roi vọt'. Người xem tự đặt ra cho mình những câu trả lời và tự đi tìm lời lý giải cho chính đáp án của mình. Câu trả lời mà người ta có thể nghĩ đến có thể khiến họ rùng mình, và không dám tin vào câu trả lời ấy… (* Das weisse Band – Dải băng trắng, bộ phim của đạo diễn Michael Haneke đã đoạt giải Cành cọ vàng LHP Cannes 2009 và vừa đoạt giải Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất Quả cầu vàng 2010) Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 21.1.2010.

Review: Lemon Tree (2008)

Saturday, January 23rd, 2010

"Lemon tree very pretty and the lemon flower is sweet but the fruit of the poor lemon is impossible to eat" - "Cây chanh rất đẹp, hoa rất thơm, nhưng trái của nó thì không thể nào ăn được"
Lemon tree (Cây chanh) là một bộ phim khiến ta uất nghẹn khi xem, bởi ta biết rằng đôi khi cuộc đời không có công lý.

Salma Zidane là một người đàn bà góa người Palestine cương nghị và mạnh mẽ, sống ở West Bank ngay sát biên giới với Isarael. Con trai đã sang Mỹ, Salma sống một mình, ngày ngày chăm lo vườn chanh hơn 50 năm của gia đình bà để lại cùng với một ông lão làm vườn. Cuộc đời bình yên của bà bỗng xáo trộn khi bộ trưởng bộ quốc phòng Israel, ông Israel Navon, dời đến ở ngay cạnh vườn chanh. Ngôi nhà sang trọng mọc lên, hàng rào được dựng, tháp canh được xây, đám quân lính, bảo vệ bắt đầu kiểm tra, dò xét, phong tỏa vùng đất.
Ngay sau khi ngài bộ trưởng Israel Navon cùng cô vợ xinh đẹp có học thức của mình, Mira, dời đến ngôi nhà mới, Salma nhận được một lá thư thông báo: vườn chanh nhà bà tiềm ẩn mối đe dọa khủng bố gia đình ông bộ trưởng, và vì lý do an ninh, quân đội đề nghị phải bứng bỏ toàn bộ vườn chanh. Cũng vì bởi lý do an ninh, vì thế sẽ không có đền bù giải tỏa nào. Khi Salma được nghe dịch lại lá thư (bà không biết đọc chữ Hebrew, ngôn ngữ của người Do Thái), bà quyết định chống trả. Cuộc chiến giữa người phụ nữ thế cô và chính quyền Israel bắt đầu từ đó. May mắn tìm được một luật sư trẻ tuổi, Ziad Daud, giúp đỡ bà đi khiếu kiện, Salma bắt đầu hành trình thưa kiện của mình, tìm đến tòa án, tìm đến truyền thông. Trong khi đó, vườn chanh bị phong tỏa không người chăm sóc đang héo hon dần. Đám lính còn lẻn vào vườn tiện tay hái chanh đem về để phục vụ cho tiệc tân gia nhà mới của ngài bộ trưởng.

Có rất nhiều phút giây khi xem Lemon Tree khiến ta uất nghẹn, bởi ta thấy rằng công lý không phải lúc nào cũng hiện diện, bởi kẻ cầm quyền đang nắm sức mạnh trong tay và người dân không thể cất lên được tiếng nói nhỏ bé của mình.
May thay, trong cuộc đấu tranh của người đàn bà kiên định ấy, còn có vị luật sư trẻ từ những thông cảm ban đầu đã dần nảy sinh một tình yêu bị cấm đoán; còn có một phụ nữ dẫu chỉ lặng lẽ nhìn từ phía bên kia hàng rào nhìn sang vườn chanh và không biết cách nào để chia sẻ với người đàn bà tội nghiệp bên kia khi mọi nỗi đau của người phụ nữ ấy bắt nguồn từ vị trí của chồng mình; còn có báo chí dám thẳng thắn đối mặt với ông bộ trưởng để chất vấn và đòi hỏi công lý và sự thật cho người đàn bà thế cô... Sự phát triển mối quan hệ giữa Salma và Mira trong Lemon Tree khá thú vị. Nó mở ra cho khán giả nhìn thấy số phận của hai người phụ nữ khác nhau về thân thế nhưng vẫn giống nhau về hoàn cảnh - họ đều bị 'cầm tù' trong một mặt nào đó.
Nữ diễn viên Hiam Abbass, với một nét mộc mạc giản dị nhưng cương nghị quyết liệt đem đến cho Salma một sức sống, một vẻ đẹp toát ra từ bên trong tâm hồn khiến ta cảm thấy mình phải đứng về phía người phụ nữ này, và hiểu được vì sao chàng luật sư trẻ đẹp trai lại bất chấp cả những luân lý, những chênh lệch tuổi tác, những cấm đoán, dị nghị của xã hội để yêu người phụ nữ góa này.
Đạo diễn Eran Riklis hoàn toàn khiến người xem đồng cảm với Salma, hồi hộp lo lắng cho số phận của bà và vườn chanh của bà, cảm nhận hết những nỗi đau, buồn, thất vọng của bà, đặc biệt khi ở tòa án. Xen lẫn với những căng thẳng đầy tính ẩn dụ về xung đột giữa Palestine và Israel, Lemon Tree còn có những câu chuyện về gia đình, về tình mẹ con, về hôn nhân. Câu chuyện của gia đình ông bộ trưởng, với quan hệ giữa Mira và con gái, giữa Mira và chồng cho thấy đạo diễn Eran Riklis rất tinh tế trong việc chạm đến những câu chuyện rất đời thường nhưng đầy tình người. Không chỉ có căng thẳng, tình cảm, mà Lemon Tree còn có là những phút giây hài hước, châm biếm, mỉa mai, mà điển hình là câu chuyện của cậu lính gác chòi canh ngày đêm học ngoại ngữ để thi đại học...
Lemon Tree có một kết thúc mở. Vừa đủ để ta hiểu rằng cuộc đời này vẫn còn nhiều bất công, nhưng cũng vẫn còn đó hy vọng...

Review: The Imaginarium of Doctor Parnassus (2009)

Thursday, January 21st, 2010

Bài review này tặng em Untouch.

The Imaginarium of Doctor Parnassus (Tạm dịch: Ảo viện của thầy pháp Parnassus - viết tắt IDP) là một phim tuyệt đẹp và kỳ lạ. Cũng như hầu hết các bộ phim khác của Terry Gilliam, IDP giống như một giấc mơ hoang đường, mông lung không rõ ràng.

Heath Ledger bất ngờ qua đời trong khi anh đang tham gia bộ phim này. Vai diễn cuối cùng của cuộc đời anh còn dang dở. Dự án phim tưởng chừng sẽ bị đổ vỡ - không ai muốn cho tiền Terry Gilliam quay lại những thước phim đã làm bởi bản thân bộ phim thôi đã tốn kém và nắm chắc phần thất bại về doanh thu. Terry Gilliam nổi tiếng với những bộ phim ế khách nhưng đều thuộc hàng phim kinh điển, có thể kể đến Monty Python and the Holy Grail, Twelve Monkeys, The Adventures of Baron Munchausen, Brother Grimms, mà nổi tiếng nhất có thể kể đến Brazil, một bộ phim gây tranh cãi bởi chủ đề tư tưởng táo bạo cũng như cách kể chuyện phá quy tắc và sự độc đáo về mặt hình ảnh. Sau cái chết của Heath, Gilliam định bỏ cuộc. "Tất cả đã hết, chúng ta cùng về nhà thôi" - Terry nhớ lại suy nghĩ của mình khi vừa nghe tin về cái chết của Heath Ledger. Ban đầu ông còn nghĩ đó là trò P.R của hãng Warner Bros để quảng bá cho vai Joker của Heath. Đoàn phim phản đối. Họ muốn hoàn thành bộ phim. Terry quyết định kêu gọi sự giúp đỡ từ bạn bè của Heath. Johnny Depp là chọn lựa đầu tiên, vì 'Johnny là bạn tôi và là một thiên tài. Depp yêu quý Heath và nhận lời ngay tức thì. Ngay khi bộ phim Public Enemies của Michael Mann bị trì hoãn, Johnny Depp tranh thủ 'trốn' ra để tham gia cùng chúng tôi". Jude Law, một trong những chọn lựa của Gilliam trước khi quyết định chọn Heath Ledger, là người thứ hai nhận lời. Đạo diễn casting của Terry gợi ý Colin Farrell sau khi cô nhìn thấy Colin ở lễ tang. Tất cả mọi diễn viên của phim đều phải thay đổi lịch quay vì phụ thuộc vào các ngôi sao mới. Mọi người đều đồng ý không đắn đo, bởi họ đều muốn tưởng niệm Heath Ledger. "Bộ phim như một lá thư tình cho Heath Ledger từ tất cả mọi người. Ai cũng yêu cậu ấy" Terry nói.
Thú vị thay, sự tiếp nối này đem đến cho bộ phim nét độc đáo riêng, và mọi thứ trở nên hợp lý nhờ tấm gương thần kỳ! Ngay chính Gilliam cũng tiết lộ rằng, những người làm âm thanh hậu kỳ đã ngờ rằng kịch bản ban đầu đã được viết ra như thế.

Heath Ledger trong vai Tony

-----------------------

Johnny Depp trong vai Tony

-----------

Jude Law trong vai Tony

----------------------

Colin Farrell trong vai Tony

Như đã nói, thật khó để mà kể lể giải thích một bộ phim của Terry Gilliam. Có thể tóm tắt như thế này: chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, xưa thiệt là xưa, có khi mấy trăm năm trước, thầy pháp Parnassus (do Christopher Plummer, ông bố đẹp trai ngày nào của Sound of music) là một đạo sĩ tu luyện trên núi cao. Một ngày kia khi ông đang truyền đạt những suy nghĩ cao siêu thâm sâu của mình cùng tăng sư thì một ác nhân có tên gọi ông Nick (Tom Waits đóng) mò đến. Ác nhân này thể hiện sức mạnh vô song của hắn, bịt hết miệng của tăng sư, và Parnassus cùng ác nhân Nick (hiện thân của Satan) đã có một canh bạc: liệu con người còn tin vào những mơ mộng, ước mơ bay bổng, hay con người chỉ còn biết đến thèm khát bản năng tầm thường. Mỗi con người bước vào tấm gương của Parnassus sẽ nhìn thấy những giấc mơ tuyệt vời của đời họ, nhưng phút cuối cùng họ sẽ phải chọn lựa họ sẽ tiếp tục theo đuổi giấc mơ của mình hay bỏ rơi mọi thứ để ngã theo những thèm muốn trước mắt...
Nếu Parnassus thua cuộc, đứa con gái của ông sẽ thuộc về Nick vào năm cô bé 16 tuổi.

Câu chuyện của chúng ta bắt đầu ba ngày trước khi con gái của Parnassus, Valentina (Lily Cole) bước sang tuổi 16. Ở một góc tối của London, thời hiện đại, khi một gánh hát xuất hiện. (tui gọi là gánh hát không có nghĩa là cái gánh này đi hát, mà gánh hát trong ý nghĩa một đoàn văn nghệ trình diễn kịch, ảo thuật tạp kỹ). Toàn bộ sân khấu của gánh hát được thiết kế trên chiếc xe tải. Đèn rực rỡ, sặc sỡ với tấm biển chào đón đầy những hoa văn kỳ lạ. Gánh hát mang tên The Imaginarium of D. Parnassus (xin lỗi không biết dịch từ Imaginarium này ra sao, chỉ hiểu được ý nghĩa mà không nghĩ ra từ tương đương trong tiếng Việt. Tạm gọi là Ảo viện vậy). 'Ngôi sao' của gánh hát rong là thầy pháp Parnassus, một ông già râu tóc bạc phơ với khuôn mặt đánh phấn trắng dày trông kỳ quái. Phụ giúp ông là cậu thanh niên trẻ Anton, cô con gái Valentina và gã lùn cáu kỉnh Percy. Họ chào mời khán giả bước lên sân khấu, bước qua tấm gương... Một khi người khách bước vào tấm gương, một thế giới kỳ ảo như chính nhưng ham muốn thầm kín nhất của họ hiện ra trước mắt. Kẻ say thấy rừng sâu nước độc, người tỉnh đồi xanh mây trắng, kẻ mộng mơ thấy mây bay và nắng ấm, người thực dụng thấy tiền bạc và châu báu... Thế nhưng, khi họ phải quyết định chọn đích đến của mình: tiếp tục đeo đuổi giấc mơ hay chạy theo những thèm muốn tầm thường, cũng chính là trò cá cược của Parnassus và Nick - linh hồn của người đó sẽ thuộc về ai?

Vị khách đầu tiên mà chúng ta được biết đã không còn theo đuổi những giấc mơ đẹp. Cậu chọn quán nhậu xập xình tiếng nhạc. Parnassus thua mất một linh hồn nữa về tay quỷ dữ...
Nick xuất hiện để nhắc nhở Parnassus về lời hẹn ước...
Cô con gái không hề biết gì về lời giao hẹn của cha.

Valentina với diễn xuất của Lily Cole trong sáng, mong manh dễ vỡ. Xuất thân từ một người mẫu thời trang, Lily Cole trong Ảo viện như một nàng tiên thật sự.

Gánh hát vô tình cứu sống một thanh niên bị treo cổ tòng teng trên cầu, Tony, do Heath Ledger thủ vai. Cảm xúc khi thấy Heath bị treo cổ rất kỳ lạ, bởi ta biết anh đã chết, và chứng kiến cảnh ấy có cái gì đó rất đau lòng.
Tony tham gia đoàn hát, gợi ý những ý tưởng táo bạo, và đem đến cả một bộ mặt mới, một tinh thần mới, một sức sống mới cho gánh hát. Anh lôi kéo được đám đông khán giả, khiến họ hạnh phúc chen chân nhau bước lên sân khấu và trải nghiệm thế giới phía sau tấm gương. Thế giới kỳ ảo của những con người tràn đầy tình yêu và sức sống ấy vô cùng tươi sáng, rực rỡ, với những ấn tượng mạnh mẽ về thị giác mà bậc thầy về hình ảnh như Terry Gilliam khiến người xem ước ao được một lần bước vào trong gương ấy. Nếu bạn đã từng xem các phim trước đây của Terry Gilliam, bạn sẽ vẫn bất ngờ về sự phong phú và ấn tượng thị giác của Ảo viện.

Khi người ta bước vào Ảo viện, không chỉ thế giới quanh họ thay đổi, ngay cả bản thân của họ cũng thay đổi. Họ xuất hiện trong bộ dạng mà họ ao ước, hay ít ra, nó phản ánh 'bộ mặt thật' của họ. Hay đôi khi, đó là hình ảnh mà người khác muốn được nhìn thấy. Kỹ xảo trong phim mang đậm nét hoạt hình, như lạc vào thế giới thần tiên, biết rằng mọi thứ đều là giả tạo nhưng vẫn không thể cưỡng lại được trước sự bay bổng. Gã say thấy mình trong cánh rừng với đầm lầy đầy những vỏ bia rỗng. Bà già giàu có thấy trang sức khổng lồ, giày lộng lẫy bao quanh. Gã phong lưu thấy mình đang dạo trên hồ với người con gái xinh đẹp của lòng mình, nhưng nước lạch đầy xác người và thú...

Mỗi khi Tony mang gương mặt của Heath Ledger bước vào Ảo viện, anh trở thành Tony Johnny Depp hào hoa phong nhã, thành Tony Jude Law láu cá khôn ngoan, thành Tony Colin Farrell lưu manh hợm hĩnh. Trong số ba gương mặt khác của Tony, tui đặc biệt yêu thích vẻ lưu manh của Colin Farrell. Có lẽ bởi nó lột tả rõ nét nhất con người của Tony, đồng thời nó thể hiện cả sự thay đổi của nhân vật này, với những diễn biến nội tâm phức tạp.

Ảo viện của thầy pháp Parnassus có thể được ghi vào danh sách những bộ phim bị nguyền rủa, bởi không chỉ Heath Ledger bất ngờ qua đời mà nhà sản xuất phim William Vince cũng chết sau heath vài tháng, rồi tiếp đến là chính đạo diễn Terry Gilliam cũng bị xe hơi tông gãy lưng. "Họ muốn lấy mạng cả ba. Lẽ ra kết cục đã 'gọn ghẽ' luôn rồi. Nhưng họ không giết tôi chết. Tôi mắc kẹt lại để kể nốt câu chuyện này"

Điều hài hước là cũng như Dr. Parnassus tuyệt vọng khi tìm kiếm 'khán giả'' muốn bay bổng theo trí tưởng tượng của họ qua những câu chuyện mà ông kể, Terry Gilliam dường như cũng tuyệt vọng khi tìm kiếm khán giả của mình...
Thế nhưng, cũng như những người khách dám theo đuổi những giấc mơ của họ đều rời khỏi ảo viện trong sung sướng hạnh phúc, tui rời khỏi rạp với sự hưng phấn bởi được xem những khung cảnh kỳ ảo tuyệt vời...

Bonus thêm vài tấm của em Lily Cole

Review: Mulholland Dr. (2001)

Tuesday, January 12th, 2010

Quay trở lại với review phim nha các bạn…
Bài này được đăng trong tập sách Chơi cùng cấu trúc của Tủ sách điện ảnh…

SPOILER AHEAD (TIẾT LỘ NỘI DUNG PHIM)

Như hầu hết các tác phẩm điện ảnh tiêu biểu khác của David Lynch, Mulholland Dr. thể hiện được cảm giác của một nơi chốn cụ thể của nước Mỹ với tất cả cá tính và cảm giác về con người, văn hoá của vùng miền ấy. Cũng như thị trấn Lumberton trong Blue Velvet hay thị trấn Twin Peaks trong phim truyền hình Twin Peaks, những thị trấn Mỹ lý tưởng đặc trưng với những ngôi nhà nhỏ trồng hoa đỏ rực được bao quanh bởi những hàng rào trắng nằm dưới bầu trời xanh ngắt, nhưng phía bên dưới đám cỏ xanh là sâu bọ đang gặm nhấm, Los Angeles của Mulholland Dr. là những con dốc quanh co khúc khuỷu, những biệt thự sang trọng cô lập, những phim trường khổng lồ nuốt chửng con người vào đó.
Sống gần Mulholland Dr., Lynch hơn ai hết ‘hiểu’ con đường này – con đường dốc quanh co, một bên triền núi, bên kia có thể nhìn ra khu trung tâm Los Angeles, để đi lên tấm biển Hollywood nổi tiếng. “Bạn cảm thấy như cả lịch sử của Hollywood trên con đường đó”. Naomi Watts, nữ diễn viên chính của phim cũng chia sẻ cảm nhận của mình về con đường này khi sự nghiệp của cô chỉ là con số không ở Hollywood “Tôi nhớ mình chạy dọc theo con đường này bao nhiêu lần với trái tim thổn thức và tự hỏi ‘Mình đang làm gì ở đây?’”. Naomi Watts cũng từng nếm trải biết bao cay đắng như chính nhân vật cô thể hiện trong phim khi từ Úc đến Hollywood để tìm kiếm danh vọng.

Chịu ảnh hưởng nhiều từ bộ phim Sunset Boulevard (1950) của Billy Wider, bộ phim nói về những giấc mơ vỡ vụn ở Hollywood, những con người bị ám ảnh bởi hào quang danh vọng và ngủ mê trong ảo tưởng, David Lynch đã một lần nữa nhấn mạnh chủ đề ấy trong Mulholland Dr. David Lynch cũng mở đầu bộ phim của mình bằng một vụ tai nạn xe hơi, nhân vật chính lạc vào một nơi xa lạ để từ đó, hành trình tìm lại chính mình bắt đầu. Ở đó, những thế lực đen tối tìm cách khống chế con người trong guồng máy của nó – đạo diễn phải chọn lựa những diễn viên mình không muốn, diễn viên phải quan hệ với đạo diễn để có được vai diễn của mình – khiến cho con người không thể tìm ra lối thoát.

Cấu trúc kể chuyện của Mulholland Dr. khá gần với Lost Highway, bộ phim siêu thực gây tiếng vang lớn của Lynch thực hiện năm 1997. Trong Lost Highway, một người đàn ông chừng 40 tuổi bị một người lạ mặt kỳ lạ theo dõi bằng máy quay phim, sau đó bị kết tội giết vợ, bị tống vào tù, và bỗng nhiên, không một lời giải thích, anh trở thành một cậu thanh niên trai tráng chừng 20 tuổi, được thả ra tù và bắt đầu một cuộc đời khác, với một đường dây câu chuyện khác! Trong Mulholland Dr., câu chuyện cũng bỗng thay đổi đột ngột giữa chừng, thân phận các nhân vật cũng bỗng thay đổi không một lời giải thích. Mở đầu phim là một tai nạn xe hơi, hai người đàn ông bị chết, người phụ nữ thoát chết (Laura Elana Harring) trong đường tơ kẽ tóc bỏ trốn vào một ngôi nhà gần đó. Ngày hôm sau, cô gái trẻ hồn nhiên Betty (do Naomi Watts thủ vai) từ quê lên Los Angeles với ước mơ sẽ trở thành diễn viên ở Hollywood. Cô đến nhà của người dì đang đi vắng để ở nhờ và cô gặp người phụ nữ bí ẩn kia. Người phụ nữ lạ mặt không nhớ nổi tên mình sau cú sốc đêm hôm trước, cô tự nhận mình là Rita, dựa theo tên của huyền thoại Hollywood Rita Hayworth từ tấm poster treo trên tường. Quyết định giúp đỡ Rita nhớ ra bản thân mình, Betty và Rita lần theo từng manh mối để đến ngôi nhà của một người phụ nữ mang tên Diane Selwyn. Song song câu chuyện ấy là câu chuyện về tay đạo diễn Adam Kesher đang đối mặt với đủ thức rắc rối trong đời: dự án làm phim không suôn sẻ, vợ ngoại tình, anh bị tống ra khỏi nhà, và một tên cao bồi lạ mặt xuất hiện đưa ra những yêu cầu kỳ lạ. Hắn muốn Adam phải đồng ý chọn một nữ diễn viên mang tên Camilla Rhodes. Khi Betty đến buổi thử vai và chinh phục mọi người ở đó bởi tài năng diễn xuất của mình, cô bắt gặp ánh mắt của Adam. Thế nhưng, vì cuộc hẹn với Rita đến tìm ngôi nhà của Diane, Betty phải đi.

Khi Betty và Rita tìm đến căn hộ của Diane, họ phát hiện Diane đã chết từ lâu, cái xác vẫn còn nằm trên giường thối rữa. Đêm về, trong vòng tay của nhau, Betty nhận ra mình yêu Rita.

Cũng như ở Lost Highway, khi đến hai phần ba bộ phim, đường dây câu chuyện rẽ hướng đột ngột. Diane Selwyn – cũng do chính Naomi Watt thủ vai – tỉnh dậy trên giường. Cô là một nữ diễn viên Hollywood thất bại cả trong sự nghiệp lẫn tình cảm. Những vai diễn cô mong muốn đều thuộc về Camilla Rhodes (do chính Laura Elena Harring đóng), cũng đồng thời, cô yêu Camilla Rhodes và ghen tuông bởi tình yêu của Camilla dành cho Adam.

Nếu như trong Lost Highway, nửa đầu phim là hiện thực và nửa sau là những hoang tưởng diễn ra trong suy nghĩ của nhân vật chính khi trên đường đến ghế điện chịu xử án tử hình, thì trong Mulholland Dr., David Lynch chọn lối thể hiện ngược lại: để khán giả thấy sự hoang tưởng của nhân vật trước khi biết được trong đời thật, ai là ai, làm gì, vì sao. Mulholland Dr. có lẽ là một trong những phim mang đậm dấu ấn của David Lynch, đồng thời cũng là phim dễ hiểu nhất trong tất cả những phim ‘khó nuốt’ của ông (như Eraserhead, Blue Velvet, Lost Highway). Có thể tìm thấy cảm giác kỳ lạ, hồi hộp, rùng rợn từng xuất hiện trong các phim của Lynch ở Mulholland Dr., với những nhân vật dị thường, những hành động bí ẩn, đẫm bạo lực nhưng cũng hài hước tưng tửng. (Cảm giác rùng rợn, kỳ lạ, siêu thực trong phim của David Lynch còn được hỗ trợ mạnh mẽ từ phần âm thanh do chính David Lynch thực hiện. Bằng những âm thanh nền tạo nên cảm giác bất an, Lynch ghi dấu ấn trong các bộ phim của mình với phong cách âm thanh riêng đặc trưng. Đồng thời, việc chọn nhạc của Lynch luôn đem đến cho bộ phim một đời sống, một tinh thần mạnh mẽ).

Không như hầu hết các đạo diễn nổi tiếng thường làm việc các nữ diễn viên trong các vai chính như Woody Allen hay Pedor Almodovar, mà phim của họ luôn tô vẽ nét đẹp trong sáng và phẩm hạnh của phụ nữ, David Lynch đem đến cho người xem phần u ám của số phận người phụ nữ. Trong hầu hết các phim của David Lynch, phụ nữ bị đối xử tồi tệ – bởi những người đàn ông, hay bởi chính bản thân họ. Nhìn trên bề mặt, họ được mô tả như một người mẹ vô trách nhiệm, một người đàn bà điên loạn, một cô gái lẳng lơ hay một con điếm. Thế nhưng, trong Mulholland Dr., phụ nữ đóng vai trò quan trọng, mà chỉ có một người yêu phụ nữ, hiểu phụ nữ sâu sắc mới có thể thể hiện những suy nghĩ, yêu đương và hờn ghen tinh tế đến như thế.

Trong các phim thời kỳ đầu của David Lynch, chân dung phụ nữ thường được thể hiện qua góc nhìn của đàn ông: Mary, người vợ, người mẹ vô trách nhiệm khi bỏ rơi đứa con của mình qua đôi mắt của Henry trong Eraserhead; cô gái điếm khổ dâm qua đôi mắt của chàng trai trẻ ngây thơ Jeffrey Beaumont trong Blue Velvet; bà mẹ vợ tương lai độc ác điên loạn qua đôi mắt trong Wild at heart, hay cô học sinh trung học xinh đẹp đáng yêu với nhiều bí ẩn Laura Palmer trở thành nạn nhân của chính người cha bệnh hoạn của mình trong Twin Peaks; và những ‘hồng nhan bạc phận’ Renée và Alice trong Lost Highway qua cái nhìn của Fred Madison, gã đàn ông vì nghi ngờ vợ đã giết chết người mình yêu quý. Thế nhưng, tất cả họ đều chỉ đóng vai phụ.

Trong Mulholland Dr., hai nhận vật chính đều là phụ nữ. Thú vị hơn, Mulholland Dr. nói về Hollywood và công nghiệp điện ảnh, nơi mà cánh đàn ông thống trị, nhưng bộ phim lại được kể qua thân phận của hai người phụ nữ. Diane Selwyn, nữ diễn viên thất bại trong sự nghiệp và trong tình yêu dành cho nữ diễn viên nổi tiếng Camilla Rhodes. Diane nhìn thấy những gì mình muốn mà không bao giờ đạt được: cô không có được vai diễn hằng mong ước – Camilla có, cô không có được tình yêu của Camilla – bởi Camilla dành tình yêu cho người khác, cô không được mời đến buổi tiệc mà ở đó, cô chứng kiến Camilla hôn người phụ nữ khác và công bố đám cưới với Adam. Vì quá ghen tuông, Diane thuê người giết chết Camilla, sau đó tự vẫn. Trong những giây phút cuối đời, Diane nhìn thấy ảo giác, ở đó cô là nữ diễn viên tài năng sáng giác Betty đang giang tay cứu vớt cho Rita (mang ngoại hình của Camilla Rhodes), người phụ nữ không nhớ được mình sau một tai nạn xe hơi. Trong thế giới hoang đường của Diane, chúng ta không thấy phụ nữ bị đối xử tệ bạc bị hành hạ như từng thấy trong những phim khác của Lynch. Ở đó, chúng ta chỉ thấy tình yêu và ghen tuông, sự hoảng loạn và căng thẳng, nỗi buồn và thất vọng. Cảm giác khi Mulholland Dr. kết thúc cũng như khi vừa tỉnh một giấc mộng, khiến người xem lờ mờ nhớ lại mọi việc, sắp xếp lại trình tự những mẩu chuyện để hiểu được chuyện gì vừa xảy ra, và đôi khi, chỉ muốn quay trở lại nằm mơ một lần nữa. (Sau Mulholland Dr., David Lynch tiếp tục thực hiện một bộ phim khác về thân phận người phụ nữ ở Hollywood, INLAND EMPIRE. Ranh giới giữa thật và ảo, giữa đời và mộng, giữa thực và siêu thực càng mờ ảo hơn cả Mulholland Dr.)

Cái kết của Mulholland Dr. là lời thì thầm “Silencio” (Im lặng), như một tiếng thở dài cho những ảo mộng phù du của những số phận phụ nữ ở thiên đường điện ảnh Hollywood. Và đôi khi, xem Mulholland Dr. cũng như các phim của David Lynch cũng như chơi một trò chơi giải đố, mà mỗi lần khám phá trở lại đều có thể tìm ra một đáp án khác nhau.

1. Chion, M. (2006). David Lynch 2nd Edition. UK: British Film Institute.
2. McGowan, T (2007). The impossible David Lynch. New York: Columbia University Press.
3. Ebert, R. (1990). Review Wild at heart. Chicago Sun Times. Retrieved April 26th, 2009 from http://rogerebert.suntimes.com/apps/pbcs.dll/article?AID=/19900817/REVIEWS/8170301/1023
4. Husband, S. (1997). Lost and Spaced. Arena. Retrieved April 26th, 2009 from http://www.geocities.com/~mikehartmann/losthighway/intlharena.html
5. Rodley, C. (2005). Lynch on Lynch Revise edition. New York: Faber and Faber Limited.
Sheen, E. & Davison, A. (2004). The cinema of David Lynch – American dreams, nightmare visions. Great Britain: Wallflower Press.
6. Weissberg, J (2006). Inland Empire. Variety. Retrieved April 26th, 2009 from http://www.variety.com/awardcentral_review/VE1117931480.html?nav=reviews07&categoryid=2352&cs=1&p=0
Wikipedia (n.d). Lost highway entry. Retrieved April 26th, 2009 from http://en.wikipedia.org/wiki/Lost_highway

VN:F [1.9.1_1087]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.1_1087]
Rating: 0 (from 0 votes)